Bài toán nâng tầm chuỗi cung ứng nông sản Việt

08:43 | 17/04/2026

DNTH: Việc thu hút nông hộ tham gia HTX không chỉ mở rộng quy mô sản xuất, mà còn là nền tảng để định hình lại chuỗi giá trị nông sản hàng hóa theo hướng bền vững, đáp ứng các rào cản kỹ thuật về cả chất và lượng của thị trường quốc tế.

Theo thống kê từ Bộ NN&MT, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam đã ghi nhận những con số ấn tượng khi đạt 70 tỷ USD trong năm 2025.

 

Nông sản Việt đổi trục phát triển: Từ chạy theo sản lượng đến chinh phục  chất lượng

Bước tiến nhờ kinh tế tập thể

Tuy nhiên, đằng sau con số này vẫn còn tồn tại một thực trạng, đó là sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam chủ yếu là manh mún, nhỏ lẻ.

Theo số liệu Tổng điều tra năm 2025, cả nước có khoảng 15,84 triệu hộ nông thôn, trong đó 8,02 triệu hộ trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (chiếm tới 50,61%).

Điều đáng nói là quy mô diện tích canh tác trung bình mỗi nông hộ tại Việt Nam chỉ chưa tới 0,5 ha. Sự nhỏ lẻ, manh mún này chính là khó khăn cản trở sự phát triển của nông nghiệp và cũng ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của người làm nông nghiệp.

Bởi khi sản xuất nhỏ lẻ, mỗi hộ nông dân là một thực thể độc lập với quy trình canh tác, tiêu chuẩn chất lượng và thời điểm thu hoạch khác nhau. Điều này dẫn đến sản phẩm nông nghiệp không có sự đồng nhất về chất lượng, khó đảm bảo được số lượng lớn. Trong khi đây là yêu cầu quan trọng mà các doanh nghiệp, tập đoàn bán lẻ toàn cầu đặt ra.

Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ NN&MT), cho rằng sản xuất theo nông hộ thường không nắm được các thông tin của thị trường quốc tế, khó nắm bắt được các tiêu chuẩn kỹ thuật của nhiều nước đặt ra.

“Do không nắm bắt được các rào cản kỹ thuật của Trung Quốc hay các tiêu chuẩn về dư lượng hóa chất của EU, nông dân rất ít động lực để cải thiện chất lượng sản xuất một cách bài bản,” bà Yến cho biết.

Bên cạnh đó, mô hình nông hộ tạo ra một hệ thống thu gom cồng kềnh với quá nhiều cấp trung gian. Từ vườn của nông dân đến được container xuất khẩu phải đi qua thương lái nhỏ, đại lý cấp 2, đại lý cấp 1 rồi mới đến doanh nghiệp.

Mỗi cấp trung gian chỉ cần cộng thêm 5% chi phí sẽ khiến giá nông sản đội lên cao. Việc thu gom dàn trải khiến thời gian bảo quản sau thu hoạch bị kéo dài, làm giảm giá trị thương phẩm.

Đặc biệt, khi thị trường biến động, xảy ra tình trạng không giữ hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp vì thiếu tổ chức đại diện có tư cách pháp nhân đủ mạnh như HTX để điều phối.

Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ đã ban hành Nghị định 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Đây được coi là đòn bẩy quan trọng nhằm thay đổi diện mạo nông nghiệp.

Tính đến năm 2025, cả nước đã hình thành được gần 3.000 dự án liên kết, huy động sự tham gia của hơn 2.400 HTX và 1.300 doanh nghiệp. Tỷ lệ nông sản sản xuất theo hình thức hợp tác, liên kết đã tăng mạnh từ mức 10% (trước năm 2018) lên hơn 31% vào năm 2025.

Từ đây, HTX đóng vai trò quan trọng, giúp doanh nghiệp tiếp cận được vùng nguyên liệu lớn mà không phải làm việc với hàng nghìn hộ dân riêng lẻ. Ngược lại, nông dân thông qua HTX được tiếp cận với vật tư nông nghiệp giá gốc, kỹ thuật canh tác tiên tiến và quan trọng nhất là cam kết bao tiêu sản phẩm.

Nông sản Việt: Xu hướng tiêu dùng mới của người tiêu dùng hiện đại

HTX là “thỏi nam châm” hút nông hộ

Vì sao nông sản-hàng hóa của các nước có ngành nông nghiệp phát triển và có chuỗi cung ứng nông sản bền vững như Trung Quốc, Thái Lan hay Nhật Bản luôn có tính cạnh tranh trên toàn cầu? Câu trả lời được các chuyên gia đưa ra đó chính là các nước này rất coi trọng mô hình HTX.

Theo TS. Phùng Giang Hải, Viện Chiến lược Chính sách NN&MT, tại Nhật Bản, HTX giữ vai trò chính trong chuỗi giá trị hàng hóa.  Nhiều HTX nông nghiệp kiểm soát gần như toàn bộ chuỗi giá trị từ cung ứng đầu vào đến thu gom, vận chuyển, chế biến, phân phối, bán lẻ. HTX ở Nhật Bản cũng đứng ra đàm phán các hợp đồng với đối tác và đóng góp về hoàn thiện chính sách với Chính phủ.

Tại Trung Quốc, mô hình “doanh nghiệp đầu tàu + HTX + nông dân” đã giúp giảm khâu trung gian xuống mức thấp nhất. HTX không chỉ làm dịch vụ mà còn sở hữu các nhà máy sơ chế ngay tại vùng nguyên liệu, ứng dụng rất hiệu quả thương mại điện tử vào tiêu thụ hàng hóa, nông sản.

Ở Việt Nam, tuy các chuỗi giá trị hàng hóa đã được hình thành nhưng vẫn còn khiêm tốn và mới dừng lại ở việc HTX làm dịch vụ đầu vào, thu gom đầu ra sơ khai. Liên kết dọc (với doanh nghiệp chế biến) và liên kết ngang (giữa các HTX với nhau) vẫn còn chưa thực sự chặt chẽ.

Trong khi hiện nay, những quy định nghiêm ngặt về môi trường như quy định chống phá rừng của EU (EUDR) hay các yêu cầu về giảm phát thải carbon (Net Zero) trong sản xuất lúa gạo, cà phê… đang đặt ra những thách thức mà nông hộ đơn lẻ không thể tự giải quyết được một mình.

Để nông sản được truy xuất nguồn gốc, cấp mã số vùng trồng và đo lường dấu chân carbon đòi hỏi chi phí đầu tư công nghệ và sự tuân thủ nghiêm ngặt trong quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển. Do đó, chỉ có HTX mới đủ năng lực đứng ra quản lý các tiêu chuẩn này cho hàng trăm, thậm chí hàng nghìn hộ thành viên, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho nông sản Việt xuất khẩu.

Để HTX trở thành hạt nhân của chuỗi cung ứng, các chuyên gia cho rằng HTX không thể hoạt động hiệu quả nếu bộ máy quản lý thiếu tư duy kinh doanh. Do đó, cần có cơ chế thu hút nhân lực trẻ, có trình độ chuyên môn về quản trị kinh doanh và công nghệ về làm việc tại HTX.

Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Cao Xuân Thu Vân cho biết, một trong những khó khăn hiện nay của không ít HTX là quy mô nhỏ, khó thu hút nông hộ vào HTX. Trong khi mục tiêu chiến lược đến năm 2045 là phải thu hút khoảng 20% dân số Việt Nam tham gia HTX.

Do đó, một HTX muốn giữ chân và thu hút thêm được thành viên thì chính HTX cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại  để nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao được thu nhập cho thành viên. Đây cũng là cách ngắn nhất để xóa bỏ các khâu trung gian không cần thiết.

Nhà nước cần ưu tiên nguồn lực hỗ trợ HTX xây dựng cơ sở hạ tầng như kho lạnh, nhà sơ chế... Khi giá trị gia tăng được tạo ra ngay tại vùng sản xuất, lợi nhuận của nông dân-thành viên sẽ tăng lên, từ đó tạo động lực thu hút họ tham gia HTX một cách tự nguyện.

Kinh tế Việt Nam giữ đà tăng trưởng trước bất ổn toàn cầu

DNTH: Báo cáo Triển vọng Phát triển châu Á tháng 4/2026 và đánh giá triển vọng kinh tế Việt Nam 2026 – 2027, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo, kinh tế Việt Nam tăng trưởng 7,2% trong năm 2026 và 7,0% trong năm 2027, bất chấp rủi ro bên...

Ổn định vĩ mô - Nền tảng tăng trưởng mới cho kinh tế Việt Nam

DNTH: Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang đối mặt với nhiều bất ổn và rủi ro, duy trì ổn định vĩ mô không còn là mục tiêu đơn lẻ mà trở thành nền tảng để kích hoạt các động lực tăng trưởng mới trong cả năm 2026.

Hội thảo "Biến động địa - chính trị và chiến lược đảm bảo năng lượng"

DNTH: Sáng ngày 9/4 tại khách sạn Puman Hà Nội, diễn ra Hội thảo "Biến động địa - chính trị và chiến lược đảm bảo năng lượng" do Viện Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh tổ chức, các chuyên gia đánh giá, những diễn biến mới...

Việt Nam đề nghị EU sửa đổi danh mục gạo thơm ưu đãi thuế

DNTH: Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương) đang đề nghị phía EU sửa đổi danh mục gạo thơm cho khớp với loại gạo thơm Việt Nam đang sản xuất.

Nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng ổn định, tiếp tục chuyển dịch theo chuỗi giá trị

DNTH: Bất chấp những khó khăn từ thị trường quốc tế do đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu và áp lực chi phí logistics tăng vọt, ngành nông nghiệp Việt Nam đã khép lại quý I năm 2026 với những kết quả tăng trưởng thực chất.

Gia Lai: Dự án của Tập đoàn FLC tạo "cú hích" cho cực tăng trưởng phía tây

DNTH: Sự kiện khởi công Quần thể FLC Pleiku Golf Club & Luxury City Resort vào ngày 4/4/2026 được kỳ vọng là "chìa khóa" giải tỏa cơn khát hạ tầng du lịch cao cấp, đưa Gia Lai trở thành điểm đến hàng đầu tại khu vực Tây Nguyên và kết...

XEM THÊM TIN