Nuôi thủy sản công nghệ cao nâng hiệu suất sử dụng mặt nước

12:25 | 08/09/2026

DNTH: Nuôi trồng thủy sản đang chuyển nhanh từ mô hình phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên sang sản xuất có khả năng kiểm soát môi trường, dịch bệnh và năng suất bằng công nghệ. Những mô hình ứng dụng công nghệ mới cho thấy dư địa phát triển không chỉ nằm ở mở rộng diện tích mà còn ở nâng hiệu quả trên cùng đơn vị mặt nước, chuẩn hóa quy trình để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

 

Nuôi thủy sản công nghệ cao nâng cao hiệu quả lẫn năng suất 1
Ứng dụng công nghệ cao đem đến những hiệu quả vượt mong đợi

 

Công nghệ nâng hiệu quả nuôi thủy sản

Sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng cả nước đạt gần 2,993 triệu tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng tôm đạt 702,5 nghìn tấn, tăng 8,1%; riêng tôm thẻ chân trắng đạt 494,3 nghìn tấn, tăng 9,5%. Kết quả này cho thấy nuôi trồng tiếp tục là động lực quan trọng của ngành thủy sản, trong đó nâng năng suất và kiểm soát quy trình đang trở thành yêu cầu ngày càng rõ nét.

Tại Vĩnh Long, hướng đi này đang được thể hiện qua quy mô nuôi tôm công nghệ cao. Đến tháng 8/2026, diện tích tôm thẻ chân trắng công nghệ cao của tỉnh đạt hơn 6.325 ha, sản lượng 88.010 tấn. Theo số liệu địa phương, năng suất mô hình cao gấp 4–5 lần phương thức nuôi thông thường. Cùng với thâm canh công nghệ cao, Vĩnh Long vẫn duy trì các mô hình rừng, thủy sản và nuôi xen canh nhằm đa dạng hóa sinh kế, giảm phụ thuộc vào một đối tượng nuôi. Mô hình rừng, thủy sản tại khu vực ven biển có mức thu nhập bình quân khoảng 100–120 triệu đồng/ha/năm; một số mô hình nuôi sò huyết trong ao tôm quảng canh cải tiến đạt lợi nhuận khoảng 145 triệu đồng/ha sau hơn 4–6 tháng.

Sự kết hợp này cho thấy công nghệ cao không nhất thiết phải được hiểu là đầu tư thiết bị với chi phí lớn trên toàn bộ diện tích. Giá trị cốt lõi nằm ở khả năng lựa chọn công nghệ phù hợp với từng hệ sinh thái và đối tượng nuôi, đồng thời kiểm soát tốt các yếu tố quyết định năng suất như chất lượng nước, thức ăn, mật độ, dịch bệnh và thời gian nuôi.

Tại Tân Tiến, Thanh Hóa, hiệu quả của cách tiếp cận này thể hiện khá rõ ở cấp độ hộ sản xuất. Một mô hình trên diện tích khoảng 1 ha được đầu tư 5 bể nổi, mỗi bể 300 m², sử dụng khung sắt lót bạt HDPE, hệ thống cung cấp ôxy và thiết bị hỗ trợ quản lý môi trường. Với mật độ 380–400 con/m², thời gian nuôi 115–120 ngày, tỷ lệ sống đạt 83–95%, mỗi vụ thu khoảng 25–27 tấn tôm và lợi nhuận hơn 1 tỷ đồng sau khi trừ chi phí. Một mô hình khác rộng 2 ha áp dụng nhà màng, nhà lưới và quy trình nuôi tôm ba giai đoạn đạt tỷ lệ sống khoảng 80%, có thể quay vòng 4–6 vụ/năm và lợi nhuận khoảng 1,3 tỷ đồng/năm.

Những con số này cho thấy dư địa đầu tư của nuôi thủy sản công nghệ cao không chỉ nằm ở sản lượng, mà còn ở khả năng rút ngắn chu kỳ sản xuất, tăng tỷ lệ sống và nâng hiệu suất sử dụng mặt nước. Tuy nhiên, đây là kết quả của những mô hình cụ thể, không thể đồng nhất với hiệu quả của mọi dự án công nghệ cao. Chi phí đầu tư ban đầu, giá thức ăn, con giống, điện năng, lao động, dịch bệnh và đầu ra vẫn là những biến số quyết định thời gian hoàn vốn.

Cùng với đó, chuyển đổi số đang mở rộng phạm vi ứng dụng công nghệ trong nuôi thủy sản. Tại Cần Thơ, ngành nông nghiệp khuyến khích ứng dụng AI, IoT, dữ liệu lớn và các giải pháp tự động hóa vào quản lý sản xuất, môi trường, dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc. Hướng đi này cho thấy thị trường công nghệ thủy sản không chỉ bao gồm máy móc, thiết bị mà còn mở rộng sang phần mềm, dữ liệu và dịch vụ kỹ thuật.

Từng bước theo sát tiêu chuẩn xanh

Nếu năng suất là động lực đầu tiên của công nghệ cao thì khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và thị trường mới quyết định giá trị dài hạn của khoản đầu tư. Đây là lý do các mô hình nuôi hiện đại ngày càng gắn công nghệ với kiểm soát môi trường, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và chế biến.

Mô hình nuôi ngao tại Thanh Hóa đang rất được chú ý. Doanh nghiệp không chỉ tập trung vào vùng nuôi mà xây dựng quy trình từ nuôi, lưu giữ, xử lý đến tiêu thụ. Ngao được làm sạch cát, bùn, sàng lọc sản phẩm không đạt yêu cầu; công nghệ xử lý vi sinh được sử dụng để hỗ trợ kiểm soát chất lượng và cho phép tái sử dụng nguồn nước. Sản phẩm được đưa vào thị trường trong nước và xuất khẩu sang châu Âu, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc; doanh nghiệp cho biết sản lượng xuất bán có thể đạt 70–100 tấn/ngày.

Điểm đáng chú ý của mô hình này là công nghệ được đặt trong toàn bộ chuỗi giá trị thay vì chỉ sử dụng tại ao nuôi. Khi chất lượng được kiểm soát từ vùng sản xuất đến sau thu hoạch, doanh nghiệp có cơ sở tốt hơn để đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường, giảm rủi ro chất lượng và nâng giá trị sản phẩm. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát triển thủy sản theo hướng xanh và có trách nhiệm với môi trường.

Ở quy mô chính sách, định hướng phát triển thủy sản năm 2026 cũng đặt trọng tâm vào phát triển vùng nuôi thâm canh ứng dụng công nghệ cao, nuôi an toàn sinh học và bảo vệ hệ sinh thái, đồng thời nhân rộng các mô hình kết hợp lúa, thủy sản và phát triển nuôi biển. Tuy nhiên, triển vọng này chỉ bền vững khi công nghệ đi cùng quản trị chi phí và thị trường. Một mô hình có năng suất cao nhưng tiêu tốn quá nhiều vốn, điện năng hoặc thức ăn vẫn có thể đối mặt với rủi ro tài chính khi giá đầu vào biến động. Ngược lại, những mô hình có khả năng kiểm soát môi trường, nâng tỷ lệ sống, rút ngắn chu kỳ nuôi, giảm chất thải và tạo ra sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn thị trường sẽ có lợi thế lớn hơn về dài hạn.

Bước chuyển của thủy sản trong giai đoạn mới không đơn thuần là đưa thêm thiết bị vào ao nuôi, mà là tái cấu trúc phương thức sản xuất theo hướng dựa trên dữ liệu, tiêu chuẩn và liên kết chuỗi. Khi công nghệ được lựa chọn đúng quy mô, gắn với điều kiện sinh thái và đầu ra, nuôi thủy sản có thể đồng thời nâng năng suất, giảm rủi ro và tạo thêm giá trị trên cùng đơn vị tài nguyên. Đây chính là dư địa để ngành thủy sản mở rộng tăng trưởng xanh mà không nhất thiết phải đánh đổi bằng việc gia tăng áp lực lên môi trường.

Giám sát trên diện rộng để quản lý rủi ro sâu bệnh

DNTH: Trước những cảnh báo khả năng sâu bệnh bùng phát theo những diễn biến bất thường của thời tiết, việc sớm có những giải pháp phòng chống và kiểm soát an toàn cho vụ mùa sẽ là tấm lá chắn quyết định để ngăn ngừa thất...

Đổi mới đào tạo chất lượng nguồn nhân lực nông thôn

DNTH: Chiến lược dịch chuyển cơ cấu nhân lực từ sản xuất thô sang chuỗi giá trị đa tầng đang tạo nên những bước ngoặt trong mô hình tăng trưởng kinh tế khu vực nông thôn. Việc gia tăng giá trị sản xuất gắn liền với đào tạo...

Cơ giới hóa đồng bộ mở đường cho nông nghiệp hiện đại

DNTH: Cơ giới hóa đang tạo chuyển biến rõ nét trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt ở khâu làm đất và thu hoạch lúa. Tuy nhiên, mức độ cơ giới hóa giữa các ngành hàng còn chênh lệch, trong khi nhiều khâu sản xuất và sau thu hoạch vẫn...

Giải nén áp lực chi phí sản xuất nông nghiệp

DNTH: Sự biến động liên tục của thị trường năng lượng và các tuyến vận tải quốc tế đang đặt ngành nông nghiệp Việt Nam trước bài toán chi phí đầy thách thức. Để bảo vệ biên lợi nhuận cho người sản xuất và giữ vững đà...

Giữ lợi thế nông nghiệp trước thách thức khí hậu cực đoan

DNTH: Nguy cơ siêu El Nino đang trở thành phép thử lớn đối với nông nghiệp Việt Nam khi thiếu nước, hạn hán và xâm nhập mặn được dự báo gia tăng trong giai đoạn cuối năm 2026 và kéo dài sang năm 2027. Việt Nam cần tạo nền tảng căn...

Lấy mã số vùng trồng làm nền tảng tăng giá trị trái cây xuất khẩu

DNTH: Với gần 135.000 ha cây ăn trái, sản lượng trên 2,5 triệu tấn/năm cùng nhiều vùng chuyên canh quy mô lớn, Đồng Tháp có lợi thế để phát triển ngành hàng trái cây theo chuỗi giá trị. Tuy nhiên, để biến lợi thế về sản lượng thành...

XEM THÊM TIN